Những vấn đề về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là giấy tờ nhân thân dùng để xác nhận tại thời điểm xin cấp, người yêu cầu đang có tình trạng hôn nhân thế nào: Chưa đăng ký kết hôn với ai hay đã ly hôn hoặc đang trong mối quan hệ hôn nhân với người khác,… Hiện nay, chưa có văn bản nào định nghĩa cụ thể về giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Tuy nhiên, đây là một trong những giấy tờ quan trọng khi muốn đăng ký kết hôn hoặc khi muốn xác minh quan hệ hôn nhân tại một thời điểm nào đó để làm căn cứ xác định vấn đề về quyền đối với tài sản hoặc nghĩa vụ liên quan đến tài sản nhằm mục đích khác. Khi công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn tại nơi không phải là nơi thường trú, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là giấy tờ bắt buộc phải có trong hồ sơ đăng ký kết hôn. Đối với người nước ngoài muốn đăng ký kết hôn tại Việt Nam, cũng phải có giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân do cơ quan đăng ký hộ tịch cấp, có giá trị chứng minh tình trạng hôn nhân của người yêu cầu.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại mục 3 chương III Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Điều 12, Điều 33 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
Giá trị sử dụng của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị đến thời điểm thay đổi tình trạng hôn nhân hoặc 06 tháng kể từ ngày cấp, tùy theo thời điểm nào đến trước. Ví dụ: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 03/10/2022 để đăng ký kết hôn, nhưng ngày 05/10/2022 người được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã sử dụng để đăng ký kết hôn thì Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng đến ngày 05/10/2022. Tùy thuộc vào mục đích được cấp, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.
Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau: Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau thì người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người yêu cầu không chứng minh được thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó (theo khoản 4 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ). Khi nhận được văn bản đề nghị, UBND cấp xã được yêu cầu, tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về tình trạng hôn nhân trong thời gian thường trú tại địa phương của người có yêu cầu.
Nếu có kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy người yêu cầu đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật. Hoặc trường hợp sau 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình, công chức tư pháp – hộ tịch trình Chủ tịch UBND ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn cho người yêu cầu.
*Lưu ý: Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
Khi có yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Giấy đã hết thời hạn sử dụng hoặc để sử dụng vào mục đích khác, thì cá nhân có yêu cầu phải nộp lại giấy Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đó.Trong trường hợp không nộp lại được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đây thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do không nộp lại được. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản trao đổi với nơi dự định đăng ký kết hôn trước đây để xác minh. Trường hợp không xác minh được hoặc không nhận được kết quả xác minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân (theo khoản 1 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP). Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cấp lại đúng với mục đích sử dụng đã cấp trước đây, trường hợp muốn sử dụng vào mục đích khác, người có yêu cầu thực hiện lại thủ tục mới. Khi cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi chú rõ “cấp lại” vào mục “Ghi chú” của Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Ví dụ: GXNTTHN đã được cấp để sử dụng vào mục đích vay vốn ngân hàng còn hạn sử dụng, do bị mất Giấy, người yêu cầu cấp lại GXNTTHN nhưng muốn sử dụng vào mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì UBND xã thực hiện cấp GXNTTHN mới theo trình tự, thủ tục quy định.
Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam đã hoặc đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài: Trường hợp công dân Việt Nam có thời gian cư trú ở nước ngoài, nay về thường trú tại Việt Nam, yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại UBND cấp xã, thì người đó có trách nhiệm chứng minh tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú ở nước ngoài. Trường hợp người đó không chứng minh được tình trạng hôn nhân của mình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã vận dụng quy định tại Điều 5 Thông tư 04/2020/TT-BTP cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về việc không cung cấp được giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân và cam đoan về thời gian, nơi cư trú, tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú ở nước ngoài.
Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đang công tác trong lực lượng vũ trang. Trong trường hợp này nơi cư trú của cán bộ, chiến sỹ đang học tập, công tác, làm việc trong lực lượng vũ trang là nơi đơn vị đóng quân được xác định theo quy định tại Điều 15 Luật cư trú năm 2020.
Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã chết thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết, vì Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định về trường hợp này. Tuy nhiên, tại Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP, người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, người đã chết thì không thể thực hiện được, nên công chức hộ tịch có thể vận dụng quy định này để từ chối giải quyết yêu cầu.
Yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người cùng giới thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
Xuân Linh